CHUYÊN ĐỀ 1
Tuyên truyền về cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 diễn ra trong bối cảnh nước ta đã trải qua 40 năm đổi mới, đạt được nhiều thành tựu toàn diện trên tất cả các lĩnh vực - từ kinh tế, chính trị, văn hóa, xã hội, quốc phòng - an ninh đến đối ngoại. Những thành tựu đó tạo nền tảng vững chắc, khí thế mới và niềm tin mạnh mẽ để Đảng, Nhà nước và Nhân dân ta bước vào giai đoạn phát triển mới.
Bốn thập kỷ qua, công cuộc đổi mới do Đảng ta khởi xướng và lãnh đạo đã đưa đất nước vượt qua nhiều khó khăn, thách thức, khơi dậy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy tối đa nội lực và tranh thủ hiệu quả ngoại lực. Nền kinh tế tăng trưởng ổn định, quy mô và tiềm lực ngày càng được mở rộng; đời sống Nhân dân không ngừng cải thiện; hệ thống chính trị tiếp tục được kiện toàn; quốc phòng – an ninh vững mạnh; vị thế quốc tế của Việt Nam được nâng cao rõ rệt, trở thành một thành viên tích cực, có trách nhiệm trong cộng đồng quốc tế. Những dấu ấn nổi bật của 40 năm đổi mới là minh chứng sinh động về đường lối đúng đắn của Đảng và sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân.
Đặc biệt, trong nhiệm kỳ vừa qua, việc sắp xếp tổ chức bộ máy và xây dựng mô hình chính quyền địa phương theo 02 cấp đã tạo nên bước chuyển quan trọng trong cải cách tổ chức, vận hành bộ máy Nhà nước. Đây được xem là cuộc cách mạng mạnh mẽ về thể chế, tổ chức và quản trị, tạo hành trang mới và khí thế mới cho bộ máy hành chính ở cả trung ương và địa phương, góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp. Mô hình mới không chỉ tinh gọn, hiện đại mà còn hướng đến phục vụ người dân, doanh nghiệp một cách chuyên nghiệp, minh bạch, hiệu quả hơn. Chính nền tảng đó làm cho cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 mang ý nghĩa sâu sắc, mở đầu cho kỷ nguyên phát triển mới của đất nước - kỷ nguyên của hội nhập sâu rộng, đổi mới sáng tạo, phồn vinh và thịnh vượng.
Ngày 15/3/2026 (chủ Nhật) cử tri cả nước sẽ tham gia bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu Hội đồng nhân dân (HĐND) các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031. Cuộc bầu cử lần này nhằm lựa chọn những đại biểu tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị, trí tuệ và năng lực thực tiễn; những người thật sự đại diện cho ý chí, nguyện vọng và quyền làm chủ của Nhân dân. Đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND nhiệm kỳ 2026 - 2031 sẽ là lực lượng quan trọng trong việc hoạch định đường lối phát triển kinh tế - xã hội, bảo đảm quốc phòng - an ninh, tham gia xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, góp phần đưa đất nước phát triển nhanh và bền vững. Vì vậy, mỗi lá phiếu của cử tri không chỉ là quyền lợi mà còn là trách nhiệm lớn lao, thể hiện niềm tin, sự kỳ vọng vào đội ngũ đại biểu được Nhân dân lựa chọn.
Để cuộc bầu cử diễn ra dân chủ, bình đẳng, đúng pháp luật, bảo đảm an toàn, tiết kiệm và thực sự trở thành ngày hội lớn của toàn dân, các cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị - xã hội đã và đang tập trung triển khai đồng bộ các nhiệm vụ theo quy định của Luật Bầu cử đại biểu Quốc hội và đại biểu HĐND. Công tác chuẩn bị nhân sự được tiến hành chặt chẽ, thận trọng, khách quan, bảo đảm cơ cấu, tiêu chuẩn và chất lượng đại biểu. Công tác thông tin, tuyên truyền được đẩy mạnh, tạo sự lan tỏa sâu rộng để mọi tầng lớp Nhân dân nắm vững ý nghĩa, tầm quan trọng của cuộc bầu cử và chủ động, tích cực tham gia. Bên cạnh đó, chính quyền các cấp tăng cường kiểm tra, rà soát cơ sở vật chất tại các khu vực bỏ phiếu; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong điều hành, quản lý; thực hiện tốt nhiệm vụ bảo đảm an ninh – trật tự, bảo vệ an toàn các điểm bầu cử. Các lực lượng công an, quân sự, y tế phối hợp chặt chẽ, không để xảy ra tình huống bị động, bất ngờ; chủ động xây dựng các phương án xử lý các tình huống phát sinh; bảo đảm để ngày bầu cử thật sự là ngày hội của toàn dân.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 – 2031 cũng là dịp để mỗi cử tri thể hiện tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc và trách nhiệm đối với Tổ quốc. Mỗi lá phiếu thể hiện sự tin tưởng, gửi gắm kỳ vọng vào những đại biểu sẽ đại diện cho Nhân dân tại Quốc hội và HĐND các cấp; đồng thời là sự khẳng định vai trò của Nhân dân trong việc tham gia xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của Nhân dân, do Nhân dân và vì Nhân dân.
Để góp phần vào thành công chung của cuộc bầu cử, mỗi cử tri cần thực hiện tốt các nhiệm vụ sau:
Thứ nhất, tích cực tìm hiểu các thông tin về bầu cử, nghiên cứu tiêu chuẩn đại biểu Quốc hội và HĐND; xem xét kỹ lý lịch, chương trình hành động của các ứng cử viên tại địa phương.
Thứ hai, phát huy tinh thần trách nhiệm, lựa chọn đúng người đủ đức, đủ tài, có uy tín, có năng lực lãnh đạo, quản lý và gần gũi với Nhân dân.
Thứ ba, nghiêm túc thực hiện quyền bầu cử theo quy định; tham gia đầy đủ, đúng thời gian; tuân thủ quy trình bỏ phiếu; góp phần để cuộc bầu cử diễn ra an toàn, trật tự, đoàn kết và đúng pháp luật.
Thứ tư, tích cực tham gia giám sát bầu cử để bảo đảm công bằng, minh bạch, góp phần xây dựng niềm tin và sự đồng thuận trong xã hội.
Cuộc bầu cử lần này đánh dấu bước phát triển mới của nền dân chủ xã hội chủ nghĩa ở nước ta, là cơ hội để xây dựng một bộ máy chính quyền tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; tiếp tục đổi mới tổ chức và phương thức hoạt động trong bối cảnh đất nước bước vào giai đoạn phát triển nhanh, bền vững và hội nhập toàn diện. Đây cũng là dịp để phát huy quyền làm chủ của Nhân dân – chủ thể của quyền lực Nhà nước, là nguồn sức mạnh to lớn để xây dựng một nước Việt Nam giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong bối cảnh quốc tế tiếp tục có nhiều biến động khó lường, cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn ngày càng gay gắt; sự phát triển mạnh mẽ của khoa học - công nghệ, đặc biệt là chuyển đổi số và trí tuệ nhân tạo đặt ra nhiều yêu cầu mới đối với quản trị quốc gia. Để tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu lực quản lý của Nhà nước, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị và chất lượng phục vụ Nhân dân, việc lựa chọn những đại biểu ưu tú, xứng đáng vào Quốc hội và HĐND các cấp có ý nghĩa đặc biệt quan trọng. Những đại biểu được Nhân dân tín nhiệm bầu ra sẽ cùng toàn Đảng, toàn dân và toàn quân thực hiện mục tiêu xây dựng đất nước hùng cường, thịnh vượng vào giữa thế kỷ XXI.
Cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 là dấu mốc quan trọng, mở ra chặng đường phát triển mới của đất nước. Thành công của cuộc bầu cử góp phần củng cố niềm tin của Nhân dân vào sự lãnh đạo của Đảng, nâng cao vai trò, hiệu lực của cơ quan dân cử; đồng thời khẳng định bản lĩnh, trí tuệ và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc Việt Nam trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.
Với nhận thức đầy đủ về ý nghĩa và tầm quan trọng của cuộc bầu cử, mỗi cử tri hãy nêu cao tinh thần trách nhiệm, phát huy quyền và nghĩa vụ công dân, chủ động tham gia tích cực vào các hoạt động bầu cử; góp phần để ngày bầu cử đại biểu Quốc hội khóa XVI và đại biểu HĐND các cấp nhiệm kỳ 2026 - 2031 thực sự trở thành ngày hội lớn của toàn dân, lan tỏa khí thế mới, niềm tin mới và khát vọng xây dựng đất nước Việt Nam giàu mạnh, văn minh, phồn vinh và thịnh vượng.
CHUYÊN ĐỀ 2
Nghị quyết số 79-NQ/TW, ngày 06/01/2026
của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế Nhà nước
Ngày 06/01/2026, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 79-NQ/TW về phát triển kinh tế nhà nước, đây là nghị quyết chuyên đề đầu tiên của Đảng về kinh tế Nhà nước kể từ năm 1986. Nghị quyết gồm các nội dung trọng tâm, cốt lõi như sau:
I. Về nội hàm kinh tế nhà nước theo tiếp cận của Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị
Nghị quyết số 79-NQ/TW của Bộ Chính trị là bước đổi mới quan trọng trong tư duy lý luận và nhận thức của Đảng về kinh tế nhà nước. Theo đó, lần đầu tiên nội hàm kinh tế nhà nước được xác định một cách đầy đủ, có hệ thống trong một nghị quyết chuyên đề, qua đó làm rõ vị trí và mở rộng phạm vi của khu vực này trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
II. Thực trạng kinh tế nhà nước sau 80 năm xây dựng và phát triển, đặc biệt sau gần 40 năm đổi mới
Thứ nhất, kết quả đạt được:
a) Về đất đai và tài nguyên, vùng trời, vùng biển, không gian: Đến năm 2023, tổng diện tích các loại đất được kiểm kê là trên 33 triệu ha, tỷ lệ diện tích được sử dụng đạt 96,5% (năm 2018 là 93,8%), trung bình mỗi năm đưa vào sử dụng khoảng 225,2 nghìn ha đất chưa sử dụng. Nguồn lực đất đai đã được khai thác và sử dụng hiệu quả hơn cho phát triển kinh tế - xã hội, an ninh lương thực được đảm bảo. Tài nguyên khoáng sản đa dạng là nền tảng để ngành khai khoáng chiếm bình quân trên 3% GDP. Tài nguyên nước được khai thác, sử dụng chặt chẽ hơn, hệ thống hồ chứa, thủy lợi được nâng cấp, góp phần bảo đảm an ninh nguồn nước, an ninh năng lượng, phòng chống thiên tai. Tài nguyên biển đảo với 5.926 đảo lớn nhỏ, tổng diện tích khoảng 3,5 triệu km2, ngày càng đóng góp quan trọng để phát triển kinh tế biển (như thủy hải sản, logistic, cảng biển, khai thác dầu mỏ, khí, điện gió ngoài khơi, năng lượng mới…). Vùng trời quốc gia được quản lý tập trung. Không gian ngầm từng bước được khai thác, sử dụng và bước đầu đem lại hiệu quả kinh tế - xã hội, nhất là ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh….
b) Về hệ thống kết cấu hạ tầng do Nhà nước đầu tư: Tổng giá trị 19 loại tài sản công kết cấu hạ tầng năm 2025 đạt gần 12 triệu tỷ, góp phần quan trọng thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh tế, xã hội, bảo đảm an ninh - quốc phòng quốc gia, an ninh kinh tế, an ninh nguồn nước, đặc biệt là hệ thống hạ tầng giao thông, hạ tầng năng lượng, hạ tầng nông nghiệp và phát triển nông thôn, hạ tầng thương mại, hạ tầng y tế, giáo dục và đào tạo, khoa học và công nghệ, văn hóa, thể thao du lịch và các hạ tầng xã hội khác
c) Về ngân sách nhà nước (NSNN): Tiềm lực tài chính quốc gia được tăng cường mạnh mẽ. Quy mô thu NSNN giai đoạn 2021-2025 ước đạt 9,4 triệu tỷ đồng, gấp 1,36 lần giai đoạn trước. Cân đối NSNN được duy trì theo các mục tiêu đề ra.
d) Về dự trữ quốc gia (DTQG): Quy mô dự trữ liên tục tăng về giá trị tuyệt đối, từ 8.493 tỷ đồng (năm 2011) lên 13.574 tỷ đồng (năm 2024), bao gồm 13 nhóm hàng với 75 mặt hàng thiết yếu, phục vụ kịp thời các tình huống đột xuất như đại dịch COVID-19 và thiên tai.
e) Về các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách:
Hiện có 22 quỹ do Trung ương quản lý, với tổng số dư nguồn quỹ dự kiến cuối năm 2024 đạt khoảng 1.594,1 nghìn tỷ đồng. Các quỹ lớn như Bảo hiểm xã hội, Bảo hiểm y tế chiếm tới 91% tổng nguồn lực, đóng vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội.
f) Về doanh nghiệp nhà nước (DNNN): Tính đến năm 2025, cả nước có 671 DNNN, mặc dù chỉ chiếm 0,23% tổng số doanh nghiệp nhưng nắm giữ khối tài sản lên tới trên 4 triệu tỷ đồng (chưa tính DNNN là các ngân hàng thương mại Nhà nước).
g) Về các tổ chức tín dụng nhà nước: Khối các ngân hàng thương mại nhà nước đóng vai trò chủ lực với tổng tài sản 9,36 triệu tỷ đồng, chiếm khoảng 50% thị phần tín dụng toàn hệ thống, hoạt động kinh doanh hiệu quả, bảo toàn và phát triển vốn nhà nước, kiểm soát tốt rủi ro, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ với ngân sách.
h) Về vốn nhà nước tại doanh nghiệp nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống: Có 142 doanh nghiệp thuộc diện này với tổng tài sản gần 111 nghìn tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế năm 2024 đạt 6.589 tỷ đồng.
i) Về đơn vị sự nghiệp công lập (ĐVSNCL): Tính đến năm 2024, cả nước có 47.596 ĐVSNCL, giảm 13,82% so với năm 2015 trên cơ sở khung khổ pháp lý cho việc sắp xếp, tinh gọn bộ máy của các đơn vị sự nghiệp công lập được ban hành. Số lượng viên chức hưởng lương từ ngân sách giảm 11,67%, vượt mục tiêu đề ra. Hiện nay, các ĐVSNCL đang tiếp tục được tinh gọn và sắp xếp theo chủ trương của Đảng.
Thứ hai, về những hạn chế, tồn tại
Bên cạnh các kết quả tích cực đạt được, tại Nghị quyết 79, Bộ Chính trị cũng đã chỉ rõ những hạn chế, tồn tại của kinh tế Nhà nước, cụ thể như sau:
Một là, hiệu quả chưa tương xứng với nguồn lực khi vẫn còn 20% DNNN (134 đơn vị) bị lỗ lũy kế với tổng số lỗ 115.270 tỷ đồng. Một số dự án lớn chậm tiến độ, kém hiệu quả kéo dài chưa xử lý dứt điểm.
Hai là, kết cấu hạ tầng chưa đồng bộ với hạ tầng giao thông vẫn là "điểm nghẽn", đường sắt và đường thủy chưa phát huy hết lợi thế; hạ tầng đô thị quá tải, tỷ lệ xử lý nước thải thấp (chỉ 15%).
Ba là, cải cách DNNN còn chậm khi tiến trình cổ phần hóa, thoái vốn gần như "đóng băng" trong giai đoạn 2023-2025 do vướng mắc về đất đai và tâm lý sợ sai.
Bốn là, nguồn lực dự trữ mỏng, theo đó dự trữ quốc gia chỉ đạt 0,12% GDP, chưa đáp ứng yêu cầu dự trữ chiến lược để đối phó với biến động lớn.
Năm là, các quỹ tài chính ngoài ngân sách chồng chéo, quy mô nhỏ, hoạt động phân tán, một số quỹ trùng lặp nhiệm vụ chi với NSNN, hiệu quả sử dụng vốn chưa cao.
Sáu là, tỷ lệ đơn vị sự nghiệp công lập tự chủ hoàn toàn mới chỉ đạt 7,1%, chất lượng dịch vụ chậm cải thiện, nhiều tồn tại kéo dài chưa được xử lý kịp thời.
3- Về nguyên nhân của những hạn chế, tồn tại
- Nguyên nhân khách quan là do căng thẳng địa chính trị quốc tế, đứt gãy chuỗi cung ứng và đại dịch COVID-19 làm suy yếu nguồn lực dự trữ của doanh nghiệp. Thiên tai cực đoan gây áp lực lớn lên hạ tầng nông nghiệp, đê điều và giao thông. Sự bùng nổ của kinh tế số, tài sản số đặt ra những thách thức quản lý mà hành lang pháp lý chưa kịp điều chỉnh...
- Nguyên nhân chủ quan là do: (i) Tư duy và nhận thức chưa đầy đủ về vị trí, vai trò, phạm vi của kinh tế nhà nước; mối quan hệ giữa Nhà nước, thị trường và xã hội chưa được xử lý hài hòa; (ii) Thể chế chưa đồng bộ, cùng với hệ thống pháp luật về đất đai, đấu thầu, tài sản công chồng chéo, tạo rào cản, điểm nghẽn, nút thắt cho sự chủ động của doanh nghiệp; tổ chức thực hiện và phối hợp vẫn là khâu yếu; (iii) Việc quản lý, khai thác và sử dụng nguồn lực, tài sản nhà nước thiếu hiệu quả, gây lãng phí, thất thoát và chưa thể hiện rõ vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước; (iv) Chưa tách bạch triệt để chức năng quản lý và chủ sở hữu vốn, cơ quan đại diện chủ sở hữu thiếu nguồn lực chuyên nghiệp, chưa hiệu quả, cụ thể như ở Trung ương dẫn đến phải chấm dứt hoạt động; (v) Quản trị lạc hậu, năng lực cán bộ chưa ngang tầm nhiệm vụ, theo đó còn nhiều DNNN chưa áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại (OECD).
III. Quan điểm, mục tiêu, tầm nhìn, nhiệm vụ và giải pháp phát triển kinh tế Nhà nước.
1. Quan điểm chỉ đạo về phát triển kinh tế nhà nước
Nghị quyết 79 đề ra 05 nhóm quan điểm:
Thứ nhất, đổi mới và cụ thể hóa quan điểm về nội hàm “vai trò chủ đạo” của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới.
Nghị quyết số 79 kế thừa quan điểm của các nghị quyết, kết luận trước đây về việc kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc bảo đảm ổn định vĩ mô, các cân đối lớn, đồng thời, bổ sung, cụ thể hóa nội hàm vai trò chủ đạo trên các mặt: Định hướng chiến lược phát triển, giữ vững quốc phòng, an ninh; góp phần phát huy giá trị văn hoá và tiến bộ công bằng, an sinh xã hội; là nguồn lực quan trọng để Nhà nước chi phối, can thiệp kịp thời đáp ứng các yêu cầu đột xuất, cấp bách phát sinh.
Thứ hai, đổi mới căn bản mối quan hệ giữa kinh tế nhà nước và các khu vực kinh tế khác nhằm phát huy đầy đủ chức năng, vai trò của từng khu vực.
Nghị quyết số 79 đã làm rõ, bổ sung quan điểm: Cùng với các thành phần kinh tế trong nước xây dựng nền kinh tế tự chủ, tự lực, tự cường, bảo đảm an ninh kinh tế, thúc đẩy hội nhập quốc tế sâu rộng, thực chất, hiệu quả. Đồng thời đề ra mục tiêu đến năm 2045: Kinh tế nhà nước trở thành nền tảng vững chắc bảo đảm tự chủ chiến lược, tự cường và sức cạnh tranh toàn diện của nền kinh tế; quản trị hiện đại, minh bạch, hiệu quả, có năng lực cạnh tranh cao và hội nhập sâu vào kinh tế toàn cầu, cung ứng dịch vụ công chất lượng cao, khẳng định tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội.
Thứ ba, quan điểm đột phá về nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác và sử dụng các nguồn lực của kinh tế nhà nước, trong đó nhấn mạnh 2 điểm mới mang tính đột phá:
(i) Nhìn nhận kinh tế nhà nước là một chủ thể thị trường trực tiếp sử dụng các nguồn lực để đầu tư, kinh doanh, tạo giá trị gia tăng, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, Nghị quyết số 79 đề ra quan điểm: Cơ chế phân bổ các nguồn lực kinh tế nhà nước phải vận hành bằng cơ chế thị trường.
(ii) Để khắc phục tình trạng kết quả hoạt động của các chủ thể kinh tế nhà nước chưa phản ánh đầy đủ lợi ích và chi phí sử dụng tài sản nhà nước, đồng thời, nhằm xác định đúng sức mạnh, tiềm lực, hiệu quả và đóng góp thực sự của kinh tế nhà nước, Nghị quyết số 79 đề ra quan điểm mới: Các nguồn lực kinh tế nhà nước phải được rà soát, thống kê, đánh giá, hạch toán đầy đủ theo nguyên tắc thị trường. Đánh giá tác động và phân tích lợi ích - chi phí xã hội của đầu tư nguồn lực vật chất của Nhà nước theo thông lệ quốc tế.
Thứ tư, nâng tầm nhiệm vụ của kinh tế nhà nước gắn với yêu cầu đổi mới mô hình tăng trưởng, hiện thực hóa mục tiêu phát triển kinh tế
3. Về mục tiêu và tầm nhìn phát triển kinh tế Nhà nước
Nghị quyết đề ra các mục tiêu tổng quát và mục tiêu cụ thể về phát triển kinh tế nhà nước đến năm 2030, tầm nhìn 2045, trong đó:
Mục tiêu tổng quát gắn với vai trò, chức năng của kinh tế nhà nước trong kỷ nguyên mới, bao gồm: (i) Nâng cao hiệu quả, phát huy vai trò chủ đạo trong lĩnh vực then chốt, chiến lược. (ii) Hỗ trợ các khu vực kinh tế cùng phát triển; (iii) Góp phần thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh. (iv) Góp phần thực hiện thắng lợi 02 mục tiêu 100 năm phát triển đất nước.
Mục tiêu cụ thể cần đạt được đối với 06 thành tố của kinh tế nhà nước:
- Về đất đai, tài nguyên: Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu sử dụng tiết kiệm, hiệu quả, minh bạch, đáp ứng yêu cầu tăng trưởng kinh tế nhanh, bền vững.
- Về tài sản kết cấu hạ tầng: Bên cạnh việc phát triển đồng bộ, hiện đại, Nghị quyết yêu cầu phải tập trung hoàn thành các dự án hạ tầng trọng điểm quốc gia, quy mô lớn, kết nối liên vùng, quốc tế.
- Về ngân sách, dự trữ quốc gia: Bám sát các mục tiêu đến năm 2030 tại văn kiện Đại hội XIV, Nghị quyết số 79 yêu cầu thực hiện các chỉ tiêu: Tỉ lệ huy động nguồn ngân sách khoảng 18% GDP; bội chi ngân sách khoảng 5% GDP; nợ công không quá 60% GDP; chi đầu tư phát triển khoảng 35-40% chi ngân sách; chi thường xuyên khoảng 50-55% tổng chi ngân sách.
- Về doanh nghiệp nhà nước: Bên cạnh việc tiếp tục phải hoàn thành các mục tiêu của Đảng về cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả DNNN, Nghị quyết 79 đề ra một số chỉ tiêu định lượng cần đạt được đến năm 2030: Phấn đấu 50 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất Đông Nam Á; từ 1-3 doanh nghiệp vào nhóm 500 doanh nghiệp lớn nhất thế giới; 100% doanh nghiệp quản trị hiện đại trên nền tảng số; 100% tập đoàn kinh tế, tổng công ty nhà nước áp dụng nguyên tắc quản trị của OECD.
- Về tổ chức tín dụng nhà nước: ít nhất 03 ngân hàng thuộc nhóm 100 ngân hàng lớn nhất Châu Á về tổng tài sản; 04 ngân hàng tiên phong về công nghệ, quản trị, chủ đạo về quy mô, thị phần, điều tiết thị trường.
- Về đơn vị sự nghiệp công lập: Nghị quyết nhấn mạnh mục tiêu xã hội hóa mạnh mẽ cung cấp dịch vụ công bên cạnh mục tiêu “giảm đầu mối, phấn đấu chỉ còn các đơn vị sự nghiệp công lập phục vụ nhiệm vụ chính trị, phục vụ quản lý nhà nước và các đơn vị cung ứng các dịch vụ sự nghiệp công cơ bản, thiết yếu” đã đề ra tại Nghị quyết số 19-NQ/TW năm 2017.
4. Về nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu
Thứ nhất, nhóm nhiệm vụ và giải pháp chung
Nghị quyết đề ra 07 nhóm giải pháp chung: (i) Đổi mới tư duy lãnh đạo, quản lý kinh tế nhà nước với trọng tâm là chuyển mạnh từ quản lý hành chính sang kiến tạo phát triển, quản trị hiện đại; (ii) Hoàn thiện pháp luật theo tinh thần Nghị quyết số 66 của Bộ Chính trị; (iii) Bảo đảm môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi, trọng tâm là tiếp cận các nguồn lực công bằng, minh bạch; (iv) Chú trọng nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, thực hiện chính sách thu hút, trọng dụng nhân tài, đồng thời, xây dựng cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm và quy trình đánh giá minh bạch; (v) Xây dựng hệ thống dữ liệu thống nhất về kinh tế nhà nước, liên thông, an toàn; phát huy vai trò dữ liệu trong hoạch định chính sách, kiểm tra, thanh tra, giám sát, đánh giá hiệu quả sử dụng vốn, tài sản công.
Thứ hai, các nhiệm vụ, giải pháp cụ thể
Một là, đối với đất đai và tài nguyên:
(i) Ngay trong năm 2026: Ban hành Luật Đất đai sửa đổi và văn bản hướng dẫn nhằm tháo gỡ các vướng mắc trong quản lý đất đai, khơi thông nguồn lực từ đất đai.
(ii) Có chính sách phù hợp để thúc đẩy việc tiếp cận, làm chủ công nghệ khai thác, chế biến sâu các loại khoáng sản, nhất là những loại khoáng sản chiến lược.
(iii) Ban hành cơ chế vượt trội và tạo khuôn khổ thử nghiệm có kiểm soát (sandbox) thúc đẩy phát triển kinh tế không gian vũ trụ, kinh tế tầm thấp, công nghiệp hàng không, vũ trụ.
(iv) Khuyến khích huy động nguồn lực xã hội, hợp tác công tư trong đầu tư, khai thác công trình ngầm.
(v) Hoàn thiện pháp luật về tài nguyên số, tài nguyên viễn thông để phát triển thị trường dữ liệu, sàn giao dịch dữ liệu và kinh tế dữ liệu. Thúc đẩy hợp tác công tư trong phát triển ứng dụng trí tuệ nhân tạo và công nghệ số tiên tiến. Đưa tài nguyên số và dữ liệu quốc gia thực sự trở thành nguồn lực chiến lược.
Hai là, đối với tài sản kết cấu hạ tầng: Nghị quyết yêu cầu thực hiện 02 nhóm nhiệm vụ chính: (i) Xây dựng chiến lược, quy hoạch hệ thống kết cấu hạ tầng với tầm nhìn dài hạn, vượt trước, đón đầu xu thế phát triển các ngành kinh tế, thúc đẩy phát triển nhanh, bền vững, chuyển đổi xanh, chuyển đổi số; đảm bảo tính đồng bộ, liên kết, đa ngành, đa mục tiêu nhằm khai thác hiệu quả tối đa các loại hình kết cấu hạtầng. (ii) Bổ sung khung pháp lý để huy động nguồn lực ngoài ngân sách để phát triển tài sản kết cấu hạ tầng, bảo đảm tính hiệu quả, công khai, minh bạch, chống thất thoát, lãng phí.
Ba là, đối với ngân sách nhà nước, dự trữ quốc gia và quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, vốn nhà nước tại doanh nghiệp do Nhà nước nắm giữ từ 50% vốn điều lệ trở xuống
(i) Đối với ngân sách nhà nước, Nghị quyết yêu cầu trọng tâm điều hành là gắn với cơ cấu lại nền kinh tế và mô hình tăng trưởng mới; nâng cao hiệu quả huy động, phân bổ và sử dụng nguồn lực.
(ii) Đối với dự trữ quốc gia, Nghị quyết đã kế thừa tinh thần Kết luận số 115 và Nghị quyết số 39 theo hướng phát triển thành nguồn lực chiến lược, gắn với quốc phòng, an ninh, an sinh xã hội và điều tiết thị trường.
(iii) Đối với các quỹ tài chính nhà nước ngoài ngân sách, Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiếp tục sắp xếp, tinh gọn hệ thống quỹ; không thành lập quỹ mới khi không cần thiết; sáp nhập, giải thể quỹ hoạt động kém hiệu quả.
(iv) Đối với vốn nhà nước tại doanh nghiệp không nắm giữ chi phối, trọng tâm là thực hiện cơ cấu lại, quản lý hiệu quả vốn nhà nước tại các doanh nghiệp không nắm giữ chi phối; chuyển giao cho doanh nghiệp có chức năng đầu tư, kinh doanh vốn; lựa chọn thời điểm thoái vốn hợp lý nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhà nước.
Bốn là, đối với doanh nghiệp nhà nước: Nghị quyết đã đề ra 17 nhóm nhiệm vụ, giải pháp cụ thể thuộc 04 nội dung chính: (i) Bảo đảm DNNN thực sự là một lực lượng vật chất quan trọng của kinh tế nhà nước. (ii) Thúc đẩy khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh; (iii) Cải thiện quản trị doanh nghiệp; (iv) Cơ cấu lại khu vực DNNN.
Bên cạnh việc tiếp tục thực hiện những các nhiệm vụ, giải pháp theo tinh thần các nghị quyết, kết luận trước đây (nhất là Nghị quyết số 12-NQ/TW năm 2017), Nghị quyết 79 có những định hướng chính sách mới cần quan tâm quán triệt và thực hiện sau đây:
(i) Nghị quyết đã định hướng rõ danh mục các ngành, lĩnh vực then chốt, chiến lược cần tập trung đầu tư để thực hiện vai trò dẫn dắt, nhất là: Quốc phòng, an ninh; năng lượng; vận tải, logistics; tài chính - ngân hàng; khoa học - công nghệ, điện tử - viễn thông, hạ tầng số; khoáng sản chiến lược. v.v.
(ii) Ban hành chính sách tạo động lực cho DNNN tăng quy mô vốn điều lệ.
(iii) Đối mới chính sách khoa học, công nghệ đối với DNNN gắn với thực hiện Nghị quyết số 57: Khuyến khích DNNN đầu tư, liên kết thực hiện vai trò tiên phong, dẫn dắt, làm chủ công nghệ lõi, công nghệ chiến lược, thúc đẩy đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh.
(iv) Về lĩnh vực quản trị DNNN: Có cơ chế thưởng theo tỉ lệ đối với phần lợi nhuận vượt kế hoạch. Đánh giá hiệu quả DNNN trên cơ sở tổng thể mục tiêu, nhiệm vụ được giao, phản ánh đầy đủ giá trị nguồn lực Nhà nước phù hợp thông lệ quốc tế.
(v) Về cơ cấu lại DNNN: Đối với cổ phần hóa không ảnh hưởng đến kiểm soát của Nhà nước trong những lĩnh vực then chốt, chiến lược, không làm mất đi các thương hiệu quốc gia có uy tín. Về thoái vốn nhà nước, doanh nghiệp mà Nhà nước không cần nắm giữ cổ phần, vốn góp chi phối thì có cơ chế, lộ trình phù hợp nhằm sáp nhập với các DNNN hoặc chuyển giao cho doanh nghiệp đầu tư và kinh doanh vốn nhà nước ở trung ương hoặc địa phương.
Năm là, đối với các tổ chức tín dụng Nhà nước: Tiếp tục triển khai các giải pháp về áp dụng chuẩn mực quản trị hiện đại, tăng vốn điều lệ cho ngân hàng thương mại nhà nước, bảo đảm minh bạch thông tin và trách nhiệm giải trình đối với các tổ chức tín dụng nhà nước, trọng tâm là:
Sáu là, đối với các đơn vị sự nghiệp công lập:
(i) Đẩy mạnh tinh gọn bộ máy và hiện đại hóa cơ chế quản lý phù hợp với mô hình chính quyền địa phương 2 cấp; cơ chế tài chính giảm từ cấp phát trực tiếp sang hỗ trợ trực tiếp cho người thụ hưởng.
(ii) Đẩy mạnh xã hội hóa các dịch vụ có khả năng cạnh tranh theo cơ chế thị trường. Mở rộng hợp tác công tư, khuyến khích khu vực ngoài nhà nước tham gia cung ứng dịch vụ công.
(iii) Chuyển đổi đơn vị sự nghiệp công lập thành công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên trong những ngành, lĩnh vực phù hợp. Đầu tư phát triển những đơn vị có tiềm lực, có khả năng cạnh tranh trong một số lĩnh vực nghiên cứu cơ bản, công nghệ chiến lược. Không tổ chức Hội đồng quản lý trong đơn vị sự nghiệp công lập. Ứng dụng công nghệ số để người dân trực tiếp đánh giá chất lượng, hiệu quả, mức độ hài lòng đối với các dịch vụ sự nghiệp công.
CHUYÊN ĐỀ 3
Những vấn đề mới, cốt lõi trong Nghị quyết số 80-NQ/TW
của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam
I. VỊ TRÍ, VAI TRÒ, TẦM QUAN TRỌNG CỦA NGHỊ QUYẾT
1. Nghị quyết 80 của Bộ Chính trị “Về phát triển văn hóa Việt Nam” ra đời trong bối cảnh đặc biệt. Trước đó, trong năm 2025, Đảng đã ban hành 07 nghị quyết mang ý nghĩa đột phá chiến lược trên các lĩnh vực trọng yếu của sự phát triển đất nước. Việc chuẩn bị Nghị quyết này gắn liền với quá trình hoàn thiện dự thảo “Báo cáo chính trị” trình Đại hội Đảng lần thứ XIV - một văn kiện chiến lược tổng thể đưa đất nước bước vào kỷ nguyên mới, trong đó có một nội dung rất quan trọng là văn hóa và con người. Như vậy, Nghị quyết 80 về văn hóa thể hiện sự hài hoà, tương thích, đồng nhịp với các văn kiện quan trọng nêu trên.
2. Nếu kể từ Đổi mới đến nay, Đảng ta đã có một loạt nghị quyết về văn hóa, tiêu biểu như Nghị quyết 05-NQ/TW năm 1987; Nghị quyết Trung ương 5 (khóa 8) năm 1998, Nghị quyết 33 (khóa 11) năm 2014... Các nghị quyết đã có vai trò, tác dụng to lớn trong định hướng cho sự phát triển của văn hoá nước nhà suốt thời gian qua. Như vậy, Nghị quyết 80 vừa phải tổng kết thực tiễn, kế thừa và phát triển cả lý luận và thực tiễn những nghị quyết trước đó; vừa phải đáp ứng những yêu cầu rất cao và mới khi đất nước bước vào kỷ nguyên mới với nhu cầu đột phá để phát triển nhanh và bền vững đất nước.
3. Hiện nay và những năm sắp tới, thế giới đang trong tiến trình xác lập trật tự mới với những chuyển biến rất nhanh, phức tạp, chưa từng có, nổi bật là cạnh tranh giữa các nền văn hóa, trong đó có cạnh tranh giá trị và ảnh hưởng của công nghiệp văn hóa… làm thay đổi căn bản các chuẩn mực ứng xử và hệ giá trị. Đó là thách thức mới, gay gắt đặt ra cho sự phát triển văn hóa nước ta.
Từ bối cảnh và đặc điểm trên, khi xác định vị trí, vai trò, yêu cầu phát triển mới của văn hóa Việt Nam, ngay trong phần khái quát chung, Nghị quyết đã xác định: “Yêu cầu Yêu cầu phát triển đất nước trong kỷ nguyên mới đòi hỏi phải có những chủ trương, quyết sách đột phá mang tính chiến lược, đồng bộ nhằm khắc phục hạn chế, bất cập, chủ động nắm bắt thời cơ, vượt lên thách thức, thúc đẩy phát triển văn hóa… Khẳng định vị thế, tầm vóc nền văn hóa Việt Nam xứng tầm một quốc gia phát triển theo định hướng xã hội chủ nghĩa, có truyền thống văn hóa, văn hiến lâu đời, đóng góp xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại”. Những nội dung rất cô đúc trên không phải là mong ước, lời kêu gọi mà chính là yêu cầu rất mới, rất cao, bao trùm, là đòi hỏi khách quan của lịch sử dân tộc đối với văn hóa trong kỷ nguyên mới. Chính từ khát vọng và tầm nhìn chiến lược trên mà Nghị quyết 80 đã xác định quan điểm chỉ đạo, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp phát triển văn hóa từ nay đến năm 2030 và tầm nhìn đến năm 2045.
II. QUAN ĐIỂM VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ MỚI TRONG NGHỊ QUYẾT
Quan điểm, nội dung trong Nghị quyết 80 chứa đựng tính kế thừa và sự phát triển lý luận về văn hóa cũng như xác định mục tiêu và những nhiệm vụ lớn xây dựng, phát triển văn hóa thông qua sự đánh giá khách quan thành tựu và hạn chế của văn hóa những năm qua. Có thể khẳng định ở một số nội dung sau:
1. Các nghị quyết trước đây đều xác định “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội”. Điều đó đúng khi xác định văn hóa thuộc thượng tầng kiến trúc mà sản phẩm của nó mang giá trị tinh thần đối với con người và xã hội. Song, cả về lý luận mới về văn hóa, thực tiễn đất nước 40 năm qua và thế giới hiện đại đã gợi mở một nhận thức mới.
Để có thể phát triển bền vững đất nước, văn hóa không chỉ là “nền tảng tinh thần”, mà phải trở thành nền tảng vững chắc của sự phát triển. Nghị quyết 80 có tới 03 lần khẳng định: “Văn hóa, con người là nền tảng”, “Phát triển văn hóa phải thực sự trở thành nền tảng vững chắc” và từ đó, Nghị quyết chỉ ra yêu cầu: “các cấp ủy, tổ chức đảng, cán bộ, đảng viên và nhân dân quán triệt, nhận thức đầy đủ, sâu sắc, toàn diện về vai trò nền tảng, sức mạnh nội sinh quan trọng của văn hóa trong phát triển đất nước”. Như vậy, Nghị quyết 80 thể hiện sự kế thừa và phát triển nhận thức về văn hóa. Đó là một quan điểm sâu, bao quát và mới về vị trí, vai trò của văn hóa.
Về nội dung này, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định “Năm điểm lớn xây dựng nền văn hóa dân tộc”, đó là:
1. Xây dựng tâm lý: tinh thần độc lập, tự cường;
2. Xây dựng luân lý: biết hy sinh mình, làm lợi cho quần chúng;
3. Xây dựng xã hội: mọi sự nghiệp có liên quan đến phúc lợi của nhân dân trong xã hội;
4. Xây dựng chính trị: dân quyền;
5. Xây dựng kinh tế.
Như vậy, khi xây dựng thành công nền văn hóa dân tộc với “năm điểm lớn” như trên, thì chính văn hóa sẽ là “nền tảng vững chắc” của sự phát triển đất nước cả về tinh thần, tâm lý, luân lý, xã hội, chính trị và kinh tế.
2. Các giá trị văn hóa tạo ra là “nguồn lực nội sinh quan trọng, động lực to lớn” cho sự phát triển và các giá trị đó phải “thấm sâu” vào toàn bộ các lĩnh vực của đời sống, góp phần trực tiếp tạo nên chất lượng cao đối với các lĩnh vực trong đời sống của con người.
Luận điểm “làm cho văn hóa thấm sâu vào toàn bộ đời sống, vào mọi lĩnh vực sinh hoạt và quan hệ con người” là luận điểm quan trọng xác định phương thức phát triển văn hóa, được khẳng định trong Nghị quyết Trung ương 5 (khóa 8).
Kế thừa trọn vẹn luận điểm trên, Nghị quyết 80 tiếp tục nêu yêu cầu và nhiệm vụ cao hơn, không dừng lại ở các quan hệ xã hội, mà đòi hỏi: “Văn hóa phải thấm sâu “từ chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường tới quốc phòng, an ninh, đối ngoại, thực sự trở thành sức mạnh mềm của quốc gia trong kỷ nguyên mới”. Cụ thể, bao quát và mang tính chiến lược, Nghị quyết còn nhấn mạnh yêu cầu có tính nguyên tắc: “Văn hóa phải thấm sâu vào mọi quy hoạch, kế hoạch, đề án, dự án với tầm nhìn dài hạn và tiêu chuẩn cao, đảm bảo đồng bộ, tương hỗ với các chính sách, giải pháp đột phá về phát triển kinh tế, giáo dục, khoa học, công nghệ và chuyển đổi số”.
3. Từ tầm nhìn mới, bao trùm về văn hóa, Nghị quyết 80 lần đầu tiên đã đưa hai phạm trù mới về văn hóa, đó là, văn hóa là “trụ cột” và là “hệ điều tiết” cho phát triển nhanh và bền vững đất nước. Như vậy, cùng với chính trị, kinh tế, xã hội thì văn hóa trở thành một trong bốn trụ cột của sự phát triển. Có nghĩa là, hai luận điểm “văn hóa là nền tảng” và “văn hóa là trụ cột” của sự phát triển đã khẳng định một tầm nhìn mới, vừa kế thừa các quan điểm trước vừa có tính đột phá trong nhận thức lý luận về văn hoá thời kỳ phát triển mới của dân tộc. Đã là nền tảng, là trụ cột thì tất yếu phải được xây dựng vững chắc, bền lâu, đúng như Cương lĩnh và văn kiện của Đảng đã khẳng định “nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” phải là một trong tám đặc trưng của chủ nghĩa xã hội.
Thực hiện triệt để tư tưởng trên đòi hỏi chúng ta phải kiên quyết khắc phục khuynh hướng chỉ chú trọng tăng trưởng kinh tế đơn thuần mà coi nhẹ xây dựng văn hóa, xây dựng con người. Khuynh hướng đó đã xuất hiện và như vậy, chắc chắn chúng ta không thể đạt được sự phát triển bền vững, thậm chí sẽ không có chủ nghĩa xã hội hoàn chỉnh theo quan điểm đổi mới của Đảng ta.
4. Để Nghị quyết về văn hóa đồng bộ, hài hòa với các nghị quyết vừa công bố, trên cơ sở nắm vững sự phát triển đột phá của thế giới hiện đại và khát vọng lớn lao của dân tộc. Vì vậy, đặc điểm nổi bật của quan điểm, đường lối phát triển văn hóa trong Nghị quyết 80 chính là “phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, tạo dựng không gian mới, xung lực mới cho phát triển văn hóa”, từ đó Nghị quyết khẳng định “ứng dụng khoa học, công nghệ, chuyển đổi số trong lĩnh vực văn hóa là một trong ba lĩnh vực đột phá”. Và để thực hiện nhiệm vụ này, Nghị quyết yêu cầu “xây dựng cơ chế, chính sách đột phá “phát triển” các nội dung trên trong lĩnh văn hóa, ban hành bộ quy tắc ứng xử trên không gian số, làm trong sạch môi trường văn hóa số; xây dựng hệ sinh thái văn hóa số”.
Để hiện thực hóa chủ trương rất mới, gắn với tính hiện đại trong phát triển văn hóa, một loạt công việc được chỉ ra trong Nghị quyết nhằm tạo động lực bứt phá cho phát triển văn hóa. Đồng thời, gắn với yêu cầu đó xuyên suốt trong Nghị quyết là nhiệm vụ hoàn thiện thể chế, tạo đột phá chiến lược, khơi thông nguồn lực, tập trung xây dựng các luật về hoạt động văn hóa, tháo gỡ các điểm nghẽn, nút thắt, hạn chế, kìm hãm sự phát triển văn hóa nhiều năm qua, xây dựng chính sách đặc thù cho các lĩnh vực đặc biệt tinh tế này, chuyển mạnh từ quản lý sang kiến tạo và phục vụ, từ quản lý sang quản trị văn hóa hiện đại.
Trong quan điểm chỉ đạo, để thực hiện các tư tưởng mới trên đây, Nghị quyết khẳng định các lực lượng, chủ thể phát triển văn hóa, trong đó Đảng lãnh đạo, Nhà nước quản lý, gắn chặt với vai trò chủ thể sáng tạo là nhân dân và đội ngũ trí thức, văn nghệ sĩ, cán bộ văn hóa, doanh nhân giữ vai trò quan trọng. Quan điểm này là sự kế thừa, phát triển, bổ sung, cụ thể hóa quan điểm chỉ đạo trong các nghị quyết trước đó về văn hóa.
5. Một nhận thức mới trong Nghị quyết 80 thể hiện rõ trong hai nội dung gắn kết với nhau là phát triển văn hóa phải “ngang tầm với chính trị, kinh tế, xã hội”, gắn với xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người, chủ quyền văn hóa số”.
Nghị quyết 33 năm 2014, khi đánh giá về hạn chế của văn hóa đã nhận định, sự phát triển văn hóa “chưa tương xứng” với các lĩnh vực chính trị, kinh tế, quốc phòng, an ninh, đối ngoại; đồng thời yêu cầu “văn hóa phải được đặt ngang hàng với kinh tế, chính trị, xã hội”. Đó là một bước tiến trong nhận thức và chỉ đạo. Tuy vậy, “ngang hàng” chủ yếu mới nói đến định hướng và biểu đồ phát triển trong quan hệ cụ thể của bốn lĩnh vực.
Nghị quyết 80 lần này đã vượt lên trên tư duy đó, bằng cách đặt văn hóa “ngang tầm” với chính trị, kinh tế, xã hội. Ở đây, không phải là thay đổi của từ ngữ mà thể hiện một tầm nhìn mới, chỉ ra chất lượng và vị thế của văn hóa trong việc “định vị quốc gia”. Tầm nhìn này không đơn thuần về mặt lý luận mà chính là một đòi hỏi cao sự thay đổi cơ bản trong tư duy và hành động phát triển văn hóa, khẳng định tầm vóc mới của văn hóa hiện đại Việt Nam trong kỷ nguyên phát triển mới.
Khi đặt văn hóa Việt Nam trong tình hình thế giới đang trong tiến trình xác lập trật tự mới …, Nghị quyết chỉ ra “nổi bật là cạnh tranh giữa các nền văn hóa, trong đó có cạnh tranh giá trị” và xác định một yêu cầu rất mới “xây dựng thế trận an ninh văn hóa, an ninh con người …”. Từ 1943, trong “Đề cương về văn hóa Việt Nam”, Đảng ta đã khẳng định “văn hóa là một trong ba mặt trận, ở đó, người cộng sản phải hoạt động”.
Kế thừa một cách nhất quán và sáng tạo trong bối cảnh hoàn toàn mới của thế giới hiện đại, Nghị quyết 80 đã chỉ ra nhiệm vụ “xây dựng thế trận an ninh văn hóa”. Qua đó, có thể nhận rõ nội hàm của thế trận này ở các yếu tố cơ bản sau:
(1) Phát huy tối đa giá trị và sức mạnh văn hóa, con người Việt Nam trong kỷ nguyên mới;
(2) Xử lý hài hòa, hiệu quả các quan hệ nội tại của văn hóa;
(3) Giữa xây và chống, truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế;
(4) Khuyến khích và tôn trọng sự phát triển ngày càng đa dạng của văn hóa Việt Nam hiện đại, đồng thời tập trung nguồn lực, vật lực, tài lực cho dòng chủ lưu, chủ lực của văn hóa là yêu nước, độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, xây dựng, bồi đắp nhân cách con người;
(5) Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh từ gia đình, nhà trường, cộng đồng đến toàn xã hội và không gian số.
=> 5 yếu tố đó là lá chắn vững chắc của thế trận an ninh văn hóa, đồng thời chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa, xây dựng Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của các sự kiện văn hóa, nghệ thuật tầm cỡ khu vực thế giới; gắn thế trận an ninh văn hóa với quốc phòng, an ninh, kiên quyết xử lý thông tin xấu độc, phản văn hóa, tin giả trên mạng xã hội và phương tiện thông tin khác, xây dựng bản lĩnh “sức đề kháng” trước tác động phức tạp và lệch chuẩn của văn hóa ngoại lai, phản cảm, phi văn hóa, “nhất là trên nền tảng trực tuyến xuyên biên giới”.
III. TẦM NHÌN MỚI VỀ MỤC TIÊU VÀ CÁC NHIỆM VỤ CỐT LÕI PHÁT TRIỂN VĂN HÓA VIỆT NAM TRONG KỶ NGUYÊN MỚI
1. Các văn kiện trước về văn hóa thường xác định phương hướng, mục tiêu khái quát, mục tiêu cụ thể, song chủ yếu dừng lại ở định hướng chung. Nghị quyết 80 đồng thời vừa khẳng định mục tiêu chung cho từng lĩnh vực, vừa chỉ ra một số chỉ tiêu cụ thể cần phải đạt tới, có nghĩa là, gắn yêu cầu cao về chất lượng phát triển với định lượng cụ thể của một số lĩnh vực văn hóa. Đó là tư duy khoa học - thực tiễn, tránh những yêu cầu chung chung không đánh giá được kết quả.
2. Xây dựng con người luôn là vấn đề trung tâm cốt lõi, mục tiêu cao nhất trong các nghị quyết của Đảng ta về văn hóa. Nghị quyết 80 đã kế thừa triệt để tư tưởng đó, gợi mở và xác định cụ thể, toàn diện những nội dung mới; đồng thời nhấn mạnh phép biện chứng “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người xã hội chủ nghĩa trong kỷ nguyên mới và xây dựng con người để phát triển văn hóa”.
Để phát huy vẻ đẹp, sức mạnh, bản sắc của con người và văn hóa Việt Nam trong trật tự thế giới hiện đại, Nghị quyết nhấn mạnh nhiệm vụ “chủ động, tích cực hội nhập quốc tế về văn hóa”. Tư duy đột phá trong xác định nhiệm vụ lớn này là đưa văn hóa vào toàn bộ hoạt động đối ngoại ở mức cao nhất, hiệu quả nhất trong tất cả các lĩnh vực chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, quốc phòng, an ninh để đồng thời vừa chủ động hội nhập, vừa tỉnh táo tiếp nhận những tinh hoa văn hóa nhân loại - hai quá trình có tính quy luật của sự phát triển văn hóa trong thời kỳ hiện đại.
3. Thấu hiểu văn hóa là lĩnh vực đặc biệt tinh tế rất đặc thù nên khi xác định quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, Nghị quyết 80 luôn lưu tâm đến đặc trưng này.
Trước hết, nghị quyết yêu cầu xử lý hài hòa, biện chứng các “quan hệ nội tại của văn hóa”, đặc biệt chú trọng quan hệ đặc thù của văn hóa giữa truyền thống và hiện đại, dân tộc và quốc tế, bảo tồn và phát triển. Trong các nghị quyết về văn hóa, Đảng luôn khẳng định văn hóa vươn lên hiện đại từ truyền thống. Tiếp tục tư tưởng đó, Nghị quyết 80 nhấn mạnh tính dân tộc, nguồn gốc và bản sắc độc đáo của văn hóa dân tộc, đồng thời thấu hiểu quy luật, khát vọng vươn lên hiện đại, “đóng góp xứng đáng vào dòng chảy của văn minh nhân loại”. Nghị quyết 80 có tới 10 lần dùng từ hiện đại khi xác định phương hướng phát triển của các lĩnh vực văn hóa như công nghiệp văn hóa, môi trường văn hóa, công trình văn hóa, văn học, nghệ thuật, các thiết chế văn hóa, không gian sáng tạo nội dung số, ... Đó là yêu cầu phát triển của văn hóa Việt Nam trong kỷ nguyên mới.
Trong nghị quyết, sự thấu hiểu đặc trưng của văn hóa còn thể hiện cụ thể trong xác định các chính sách cho phát triển văn hóa. Nghị quyết nhiều lần nhắc đến tính đặc thù, đột phá, vượt trội, giải phóng sức sáng tạo trong thể chế, chính sách, cơ chế phát triển văn hóa, phát huy tài năng văn hóa.
4. Có ba thành tố quan trọng để phát triển văn hóa được Nghị quyết 80 gắn kết trong một nhiệm vụ lớn, đó là phát triển hạ tầng, huy động, sử dụng các nguồn lực và nâng cao chất lượng nguồn nhân lực văn hóa.
Về hạ tầng, Nghị quyết xác định: “tập trung đầu tư, hoàn thiện hạ tầng văn hóa, ưu tiên các thiết chế văn hóa quy mô quốc gia, ngang tầm khu vực và quốc tế”. Một nhiệm vụ chưa từng được đặt ra trước đây.
Về nguồn lực Nghị quyết khẳng định “đảm bảo bố trí đủ kinh phí cho các chương trình, đề án, tăng đầu tư công cho văn hóa theo hướng trọng điểm, trọng tâm và thu hút đầu tư xã hội ở mức cao nhất”.
Nghị quyết dành phần đặc biệt quan trọng trong phát triển đột phá văn hóa, đó là xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, cán bộ cấp chiến lược, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, công chức, viên chức, người lao động, cán bộ chủ chốt ở địa phương, xây dựng và phát triển mạng lưới chuyên gia trong và ngoài nước về văn hóa. Nghị quyết nhấn mạnh yêu cầu tiên tiến, hiện đại và tính đặc thù trong đào tạo và nghiên cứu văn hóa, văn minh Việt Nam. Đối chiếu với thực tiễn, thực trạng hiện nay, mỗi nhiệm vụ cụ thể trên thực sự là một thách thức lớn và khó, cần một tư duy đột phá và một kế hoạch dài hạn, khẩn trương, kiên quyết và kiên trì trong chỉ đạo và tổ chức thực hiện.
Nghị quyết 80 “Về phát triển văn hóa Việt Nam” chứa đựng nhiều nội dung, bao trùm toàn diện với phương thức và tư duy mới, mang tính đột phá. Thực hiện trọn vẹn, hiệu quả cao khát vọng, mục tiêu, các nhiệm vụ đề ra trong Nghị quyết, chắc chắn chúng ta sẽ tạo ra được vị thế và tầm vóc mới của nền văn hóa Việt Nam hiện đại, tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, đóng góp trực tiếp cho sự phát triển nhanh và bền vững đất nước và góp phần xứng đáng vào dòng chảy văn minh nhân loại. Thách thức mới đang đòi hỏi một quyết tâm sắt đá với sự đồng lòng và sự nỗ lực hành động của toàn Đảng, toàn dân và toàn quân ta.
CHUYÊN ĐỀ 4
Tuyên truyền kỷ niệm 67 năm ngày Bác Hồ
về thăm Cát Bà, Cát Hải (31/3/1959 - 31/3/2026
I. Sự kiện Bác Hồ về thăm Cát Bà, Cát Hải (31/3/1959)
Cách đây 67 năm, ngày 31/3/1959, trong chuyến thăm và kiểm tra tình hình phát triển kinh tế xã hội sau hòa bình lập lại ở miền Bắc tại một số đảo thuộc vùng Đông Bắc Tổ quốc, Bác Hồ đã về thăm cán bộ, Nhân dân hai huyện đảo Cát Bà, Cát Hải. Sự kiện này là một phần thưởng vô giá với Đảng bộ, chính quyền, quân và Nhân dân huyện đảo (nay là đặc khu Cát Hải); thể hiện sự chăm lo của Bác đối với đồng bào, chiến sĩ nơi đảo xa.
Trong lần về thăm, Bác đã dành nhiều thời gian tiếp xúc, gặp gỡ với các tầng lớp Nhân dân, Bác dặn: "Tiền đồ của cá nhân không thể tách rời tiền đồ của Tổ quốc, của Nhân dân, của giai cấp, của cách mạng, của Đảng. Nếu muốn tách rời tiền đồ của Nhân dân thì chỉ có cách nhảy xuống biển, như người thủy thủ muốn rời khỏi con tàu"
Đối với ngư dân, Bác khuyên: "Ngư dân phải khỏe mạnh hơn nữa mới đi được biển....nghề cá ở đảo rồi đây phải đưa máy móc vào. Đảng và Chính phủ sẽ giúp đỡ bà con sắm thuyền lưới tốt hơn để phát triển sản xuất".
Đối với chiến sĩ, bác dặn đồng chí cán bộ Huyện đội: "Chú chuyển lời thăm hỏi sức khỏe của Bác tới anh em cán bộ, chiến sĩ trong đơn vị ở đây".
Bác căn dặn chung đối với Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện đảo: "Rừng vàng, biển bạc của ta, do Nhân dân ta làm chủ.”
“Phải ra sức khai thác, bảo vệ, phải đẩy mạnh tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm để đời sống Nhân dân ngày một ấm no, hạnh phúc…. tăng cường đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, chăm chỉ học tập xoá nạn mù chữ và bổ túc văn hoá tốt hơn…"
Hình ảnh và những lời căn dặn của Bác luôn luôn khắc sâu trong tâm trí các thế hệ cán bộ, quân và Nhân dân Cát Bà, Cát Hải. 67 năm qua, dù có bao nhiêu biến cố, đổi thay, nhưng dù trong lửa đạn khốc liệt của chiến tranh, hay trước sóng gió, bão táp, dịch bệnh và thử thách cam go của cuộc sống; Đảng bộ, chính quyền, quân và Nhân dân đặc khu Cát Hải luôn không ngừng khắc phục khó khăn, chiến đấu ngoan cường, dũng cảm bảo vệ đảo, đồng thời từng bước xây dựng quê hương theo con đường xã hội chủ nghĩa mà Đảng và Bác Hồ kính yêu đã lựa chọn.
II. Một số thành tựu cơ bản của Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân đặc khu làm theo lời Bác
Tháng 3/1947, chi bộ Đảng đầu tiên của huyện Cát Hải được thành lập. Cuối tháng 11/1947, Đảng bộ huyện được thành lập là bước ngoặt lịch sử trong sự nghiệp cách mạng của huyện đảo. Đảng bộ huyện được thành lập đã kịp thời đảm nhận sứ mạng lịch sử giao phó, lãnh đạo Nhân dân vượt qua khó khăn, gian khổ, tổ chức khởi nghĩa vũ trang chống thực dân Pháp tại địa phương với những trận đánh đi vào lịch sử như: Đá Phèng, Đồng Tép, Khoăn Cao..., huy động sức người, sức của cùng cả nước làm nên chiến thắng Điện Biên Phủ "Lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”.
Trong kháng chiến chống Mỹ, bằng truyền thống của tinh thần đoàn kết, ý chí kiên cường của các lực lượng vũ trang và Nhân dân huyện đảo, quân dân trên đảo đã đoàn kết một lòng, tổ chức đánh giặc gần 600 trận lớn nhỏ gắn liền với tên tuổi như: Ngô Xuân Tòng đã lấy thân mình làm giá súng để đồng đội tiêu diệt máy bay địch, Đoàn Hải Sầm cùng đồng đội bắt sống tên giặc lái Mỹ đầu tiên ở Hải Phòng, Vũ Bá Phiệt kiên cường bám giữ trận địa trên núi cao… tiêu biểu anh hùng LLVT Nhân dân Đoàn Đức Thái, anh hùng LLVT Nhân dân Hoàng Thanh Loan, liệt sĩ Phạm Xuân Ba... đã góp phần cùng cả nước làm nên đại thắng mùa Xuân năm 1975, góp phần tô đậm thêm truyền thống “Hà Sen anh dũng - Đôn Lương kiên cường”.
Trong 2 cuộc kháng chiến, 2 huyện Cát Hải, Cát Bà đã có 1.971 thanh niên ra trận, có 395 người đã anh dũng hy sinh và 160 người đã để lại một phần xương máu của mình ngoài chiến trường vì độc lập, tự do của quê hương, đất nước. Với những chiến công ấy, Đảng và Nhà nước tặng cho Nhân dân huyện đảo 1929 Huân chương, Huy chương các loại, 26 bà mẹ vinh dự được nhận danh hiệu cao quý - Bà Mẹ Việt Nam anh hùng.
Sau khi được hợp nhất thành huyện Cát Hải ngày nay vào ngày 11 tháng 3 năm 1977, huyện Cát Hải cùng thành phố và cả nước bước vào thời kỳ khôi phục hậu quả chiến tranh, xây dựng và phát triển kinh tế. Từ một huyện đảo xa đất liền, nghèo nàn, lạc hậu, điều kiện kinh tế - xã hội rất khó khăn; được sự quan tâm đặc biệt của Trung ương và thành phố, bằng trí tuệ và sự năng động, với tinh thần đoàn kết và sự sáng tạo, các thế hệ lãnh đạo của Đảng bộ huyện đã lãnh đạo chính quyền, các LLVT và Nhân dân từng bước xây dựng huyện đảo xứng đáng với truyền thống quê hương và những danh hiệu cao quý được trao tặng. Năm 1998, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân huyện Cát Hải vinh dự được đón nhận danh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang Nhân dân và năm 2009 được nhận Huân chương Độc lập hạng Ba. Ngày 08/10/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định công nhận huyện Cát Hải đạt chuẩn nông thôn mới. Năm 2020 huyện được nhận Huân chương Lao động hạng Ba. Năm 2025, Đảng bộ đặc khu Cát Hải được Ban Thường vụ Thành ủy Hải Phòng đánh giá hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.
Theo Nghị quyết số 1669/NQ-UBTVQH15 ngày 16/6/2025 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa XV về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của thành phố Hải Phòng trong năm 2025, từ ngày 01/7/2025 đặc khu Cát Hải được thành lập trên cơ sở sắp xếp toàn bộ diện tích tự nhiên, quy mô dân số của 12 xã, thị trấn thuộc huyện Cát Hải cũ với diện tích tự nhiên 286,98km2, dân số 71.211 người. Hiện nay, Đảng bộ đặc khu Cát Hải có 2.787 đảng viên, sinh hoạt tại 93 tổ chức đảng (8 đảng bộ cơ sở, 32 chi bộ cơ sở, 53 chi bộ trực thuộc). Có 53 chi bộ thôn; 08 chi bộ, đảng bộ loại hình doanh nghiệp, hợp tác xã; 30 chi bộ, đảng bộ cơ quan hành chính, sự nghiệp; 01 Đảng bộ Công an, 01 chi bộ Quân sự.
Với mục tiêu được xác định tại Đại hội Đại biểu Đảng bộ đặc khu Cát Hải lần thứ I, nhiệm kỳ 2025-2030: “Huy động tối đa các nguồn lực để chuyển đổi xanh, chuyển đổi số, ứng dụng trí tuệ nhân tạo, xây dựng và phát triển Cát Hải trở thành đặc khu hiện đại, văn minh, là địa bàn trọng điểm kinh tế biển của thành phố và các tỉnh phía Bắc. Đảo Cát Bà trở thành Khu du lịch quốc gia, trung tâm du lịch sinh thái biển quốc tế; đảo Cát Hải là trung tâm dịch vụ cảng biển-logistics, khu công nghiệp hiện đại; chú trọng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân; bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh”, Đảng bộ, chính quyền, quân và Nhân dân đặc khu nêu cao quyết tâm, chung sức, đồng lòng vì mục tiêu xây dựng Cát Hải trở thành đặc khu hiện đại, văn minh./.